Tìm lại dấu xưa

Ngày 4- 16/10/2019: Sravasti (thành Xá vệ , Tinh xá Kỳ viên)

Những nơi dừng nghỉ, đều biết khách là những người đi viếng đất Phật, nên khách sạn nào cũng có hình Phật. Dừng chân thấy hình Đức Phật, du khách cảm thấy an ổn!

XaVe-khachsan

Thầy Huyền Trang ghi lại rằng:

Huyền Trang đi về hướng Đông bắc 500 dặm đến Sravasti (Śrāvastī, Thất-la-phiệt室羅伐, Thất-la-phạt-tất-để室羅伐悉底She-lo-fa-si-ti, Xá-vệ舍衛). Srāvasti là thủ đô của Vương quốc Kosala.

Có cả trăm ngôi chùa, tăng chúng cả ngàn người. Đều học Chánh Lượng Bộ正量部 (Sammatīya), khi Huyền Trang đến chỉ còn là di chỉ.

Thời Đức Phật, kinh thành này được nhắc đến nhiều trong kinh điển. Nay còn nhiều tháp ghi lại sự tích. Có những sự việc còn được ghi lại. Cách thành năm sáu dặm về phía Nam có rừng Thệ Đa逝多, nhà Đường gọi là Thắng Lâm勝林.

– Trong kinh Tương Ưng Bộ (Saṃyutta-nikāya) [tương đương với Tạp A Hàm] trong nhiều phẩm có nhắc đến thành Sravasti.

– Mở đầu bản kinh: “Nhất thời Phật tại Xá-vệ quốc, Kỳ thọ Cấp Cô Độc viên…” trong các kinh Kim Cang, Lăng Nghiêm.

– Vua Ba-tư-nặc yết kiến và quy y với Đức Phật. Nhờ vậy chánh pháp phổ cập khắp lãnh thổ Kosala[1].

– Nơi Phật lưu trú hai mươi lăm mùa mưa tại tinh xá Kỳ Hoàn.

– Ương-quật-ma-la (Aṅguli-mālya) được Phật cảm hóa và xuất gia theo Phật. Hiện còn một tháp kỷ niệm.

 

Di chỉ thành Xá-vệ chưa định được, mênh mông bao la. Chỉ biết rằng đang đứng trên đất rộng lớn của thành Xá-vệ ngày xưa, cũng may là di chỉ Tinh xá Kỳ Viên[2] còn xác định được.

Trưởng giả Tu-đạt ở gần thành Xá-vệ, đi qua nước Ma-kiệt-đà gặp được Phật, trở về phát tâm kiến lập tinh xá. Giáo pháp nơi đây lại được vua Ba-tư-nặc hết lòng hỗ trợ nên những bản kinh Phật thuyết giảng tại đây được ghi lại rất nhiều. Thật là cảm khái khi đến khu vườn này.

Danh từ “Kỳ viên” chỉ nghe qua những bản kinh, nay sắp đặt chân đến miền đất dường như huyền thoại.

Nơi cổng vào có một bảng tóm tắt. Được biết Kỳ Viên Tịnh Xá là nơi Đức Phật thường trú hoằng pháp trong suốt 24 năm, nằm cách bên ngoài thành cổ Shravasti (thành Xá Vệ) khoảng 2km.

KyVienKyVien-cong

Hơn ngàn năm sau, khi thầy Pháp Hiển và Thầy Huyền Trang đến viếng thì chỉ còn di chỉ. Hiện nay khôi phục tái tạo nên móng để giữ lại vết tích xưa cho người đến vững niềm tin.

Bước vào vườn của ông cấp cô độc và cây của thái tử Kỳ đà, như lời kinh còn vang, Như thị ngã văn, nhất thời Phật tại xá-vệ quốc, kỳ thọ cấp cô độc viên…

KyVien-CapCoDockỳ thọ cấp cô độc viên

 

Được giới thiệu là Gandhakuti (Hương Thất) nơi Phật nghỉ. Bên cạnh cũng một Kosambakuti (hương thất). Nơi hương thất, các đoàn đến đảnh lễ Phật, tụng niệm, tọa thiền…

HuongThatPHAThương thất

Sau đó thăm viếng kinh hành quanh hương thất và thuyết pháp nói về sự tích, lịch sử, giáo pháp…

Những nền gạch được định vị trí là tăng phòng được chà rửa cho bớt rêu phong.

KyVien-1

Tháp các thánh tăng được trùng tu vào triều đại Kushan (quý Sương).

KyVien-thapthanhtang KyVien-thanhtang

Nơi đây luôn được nhấn mạnh là nơi Đức Phật ở những mùa hạ. Trong mùa hạ, gọi là an cư, chư tăng tránh bớt việc đi du hóa, vì  là mùa mưa, bớt được việc dẫm đạp côn trùng. Quan trọng nhất là ở yên một nơi tu tập, có những khu rừng các vị không trò chuyện với nhau suốt thời an cư, nên có thuật ngữ “im lặng như thánh” (lời không nói và tâm không nói), mới là “im lặng sấm sét”. Dường như ngoài việc cá nhân, cả ngày chỉ im lặng kinh hành hoặc tọa thiền.

 

Hiện nay còn nền được định vị là giảng đường, nơi giảng pháp cho mọi người bên ngoài đến nghe.

KyVien-giangduonggiảng đường

Vì gần kinh đô Xá-vệ nên vua Pasenadi (Ba-tư-nặc)[3] thường xuyên đến hỏi về giáo pháp và quy y với Phật.

Trong sách tiếng Anh thấy những hình miêu tả cảnh vua Ba-tư-nặc đến viếng Phật. Những bức điêu khắc thấy trong viện Bảo tàng.

1024px-Prasenajit_of_Kosala_pays_a_visti 800px-Procession_of_Prasenajit_of_Kosala_leaving_Sravasti_to_meet_the_Buddha

Lời dạy của Đức Phật với vua Ba-tư-nặc trong lần đầu gặp gỡ.

“Cả ngày bị giam cầm bởi tài sắc dục vọng đó là nguồn gốc của mọi khổ đau, tất cả trí tuệ đều bị nó che lấp”. 

“Nên biết rằng, đời người ngắn ngủi, sinh mệnh vô thường, thân tâm mỗi niệm đều không ngừng sinh diệt biến hóa. 

Đại vương, Như Lai nói với người, người đừng nghĩ rằng xuất gia học đạo mới tu được, xuất gia hay tại gia vốn không phân biệt, có người tu hành nơi rừng sâu, núi cao vẫn bị thất bại, có người tu tại gia vẫn được phước lành. Tu hành không phân biệt đối tượng, người làm vua cũng vậy, cũng có thể tu hành”.


Rời Kỳ Viên, đoàn đến thăm tháp ông Cấp Cô Độc và Ương-quật-ma-la. Nơi trưởng giả Tu Đạt sống không xa thành Xá-vệ.

Nếu không có những di chỉ tìm được, thì không biết đâu là đâu.

CapCoDoctháp Cấp cô độc

Đối diện bên kia đường là tháp Ương-quật ma-la

UongQuatMaLaTháp Angulimala (Ương-quật-ma-la)

Hai câu chuyện này xảy ra khi đức Phật ở Kỳ Viên. Được ghi vào Kinh Pháp cú.

 Trên thế gian này, mọi người đều bình đẳng với nhau ở khổ đau cũng như giác ngộ. Thầy Angulimala trước kia là người hung bạo, đầy dãy nghiệp chướng như thế, nhưng về sau thầy đã tinh cần miên mật phát huy trí huệ sẵn có của thầy, đánh bạt hết ác nghiệp, giống như vầng trăng ló dạng ra khỏi mây mù, chiếu sáng thế gian. 

Vua Ba-tư-nặc đến chỗ Phật, kính cẩn ngồi một bên, và thưa: Bạch Thế Tôn! Thật kỳ diệu. Thế Tôn điều phục người không thể điều phục, trấn an kẻ dấy loạn, chế ngự kẻ không thể chế ngự. Thế Tôn điều phục không cần đến roi gậy, gươm đao với những kẻ mà nếu chúng con có dùng đến roi gậy, gươm đao cũng không thể chế ngự nổi.

Pháp cú câu 173
Ai dùng các hạnh lành,
Làm xóa mờ nghiệp ác,
Chói sáng rực đời này,
Như trăng thoát mây che.

Thượng tọa Ương-quật-ma-la sống độc cư, rút lui khỏi thế gian, chuyên tâm quyết ý và chẳng bao lâu ngay đời này, tôn giả an trú trong trí tuệ, đạt được Minh sát tuệ, và đạt được mục đích tối cao của dòng Thánh, đó cũng là mục đích của những người trẻ tuổi từ bỏ cuộc đời, từ bỏ gia đình sống không gia đình. Tôn giả tuyên bố: “Đời này là đời cuối, phạm hạnh đã lập, việc làm đã xong, ta không còn trở lại đời này”. Thượng tọa đã chứng A-la-hán.

Trong pháp cú câu 422 nói về Angulimala (Ương-quật-ma-la) sau khi đã giác ngộ.

He, the Noble, the Excellent, the Heroic, the Great Sage, the Conqueror, the Passionless, the Pure, the Enlightened one – him do I call a holy man.

“Người vô úy, cao thượng như một bậc đại thánh, người đã tự khắc phục không còn dục vọng, người đã rửa sạch mọi nhiễm ô, đã giác ngộ, người ấy Như Lai gọi là Bà La Môn.”

Đức phật dạy: Này các Tỳ kheo, Angulimala không sợ hãi, Bởi vì, trong số những bậc đại sĩ đã xa lìa tham ái, những Tỳ kheo như Angulimala là tôn quí nhất, và không sợ hãi nữa.


Còn một nơi chốn đến viếng, là ngọn đồi Đức Phật từ đó bước lên cung trời Đao Lợi

LenDaoLoidaoloi-1 Xave-lenDaoLoi Trên đồi còn những nền tháp.

Không biết lúc tiễn đưa thế nào, nhưng cảm thấy nơi đây không được quan tâm như Sankasia – nơi Phật từ cung trời Đao Lợi về.

Đi thì không quan trọng bằng về. Tiễn đi có buồn, nhưng về thì mừng hơn! Khi gặp thì quên năm tháng đã cách xa!

Rời Xá-vệ chuẩn bị qua biên giới Nepal.

XaVe-lumbini

Đường dài, hai bên ruộng đồng trải dài. Có đoạn đang sửa chữa, gập ghềnh nhưng ngày sau sẽ dễ đi hơn. Giai đoạn phát triển nào cũng cần vượt qua những khó khăn bởi tính cố hữu khăng khăng.

Đến biên giới, đường đã lên đèn.

Nepal


 

 


Chú thích

[1] Vương quốc Kosala (Kiều-tát-la憍薩羅) của vua Ba-tư-nặc波斯匿 (Skt. Prasenajit) dài 350km từ Tây sang Đông, rộng 270km từ Bắc xuống Nam. Điểm cực Tây của nó nằm khoảng 70km phía Tây Lucknow. Sông Aciravati nối thủ đô nước Kosala với hệ thống sông Hằng. Srāvasti nằm trên một trong những tuyến đường thương mại quan trọng thời cổ Ấn Độ.

Vương quốc này rộng lớn, trải dài từ sông Ghaghara đến chân núi Himalaya. Và từ sông Karnadi phía Tây dãy Dhaulagiri đến Faizabad ở phía Đông.

[2] Vùng đất của Tinh xá này vốn là Lâm viên của thái tử Kỳ-đà. Trưởng giả Tu-đạt (Sudatta) thường hay giúp đỡ cho những kẻ cô đơn nghèo khổ nên dân chúng địa phương tặng cho ông ta cái tên đặc biệt “Anathapindika” có nghĩa là “Cấp Cô Độc”. Ông muốn mua lại vùng đất này (ước tính khoảng 100 mẫu) để xây dựng Tinh xá cúng dường Đức Phật và Tăng đoàn. Thái tử ra điều kiện, nếu Tu-đạt có thể đem vàng ròng rải khắp mặt đất Lâm viên thì thái tử sẽ bán cho. Tu-đạt y lời, đem vàng trải khắp Lâm viên khiến cho thái tử Kỳ-đà cảm nhận được thành tâm của ông, nên thái tử đã phát tâm cúng dường toàn bộ cây trong Lâm viên để cả hai người cùng kiến tạo Tinh xá. Tinh xá có tên là Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên (vường ông Cấp cô độc, cây của Thái Tử Kỳ Đà). Chùa được xây dựng dưới sự hướng dẫn của ngài Xá Lợi Phất (Sariputta). Tên chùa là Kỳ Viên (Jetavana Vihara). Theo sử kể, 100 người thợ và kéo dài trong 4 tháng mới hoàn tất.

[3] The first time the king met the Buddha, he asked, “How is it that Master Gotama claims he has gained full enlightenment? Master Gotama is both young in years and young as a monk.”

The Buddha replied, “Great King, there are four things that should not be looked down upon and despised because they are young. They are a noble warrior, a serpent, a fire and a bhikkhu (monk). An enraged young warrior may ruthlessly cause harm to others. The bite of even a small snake may kill. A little fire may become a huge inferno that destroys building and forests. Even a young monk may be a saint.”

Hearing this, King Pasenadi of Kosala understood that the Buddha was indeed a wise teacher and decided to become his follower.

Trang 7 của 49« Đầu...5678910...203040...Cuối »